Alexandre Pires, nhạc La Tinh theo phong cách mới

Tiếp tục loạt bài viết nhân dịp hè về các tình khúc La Tinh, năm thứ ba, chương trình hôm nay được dành để nói về Alexandre Pires, ca sĩ người Brazil. Gần đây, anh đã cho tái bản một tuyển tập (Mis Favoritas) bao gồm các bài hát ăn khách nhất của mình ghi âm trong cả hai thứ tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

alxies34

Năm nay 39 tuổi, Alexandre Pires sinh trưởng ở miền Đông Nam Brazil(Minas Gerais). Tuy còn trẻ, nhưng Alexandre thật ra đã có nhiều năm tay nghề. Anh thành lập một ban nhạc trẻ (tên là Só Pra Contrariar) và bắt đầu đi hát từ năm anh 13 tuổi. Cùng với nhóm, anh chuyên biểu diễn samba trong các quán nhạc và tại các liên hoan địa phương. Vào năm 1993, nhóm này ký hợp đồng ghi âm đầu tiên với hãng đĩa BMG.

Album đầu tay của nhóm được phát hành năm anh mới 17 tuổi, và gặt hái thành công với hơn nửa triệu bản. Trong hơn 7 năm liền, ban nhạc liên tục đi biểu diễn khắp Brazil và ghi âm nhiều album liền, trong đó có tập nhạc thứ năm lập kỷ lục số bán thời bấy giờ với hơn ba triệu bản, tương đương với ba đĩa kim cương.

alexxiae

Nhờ vào thành công này, cả nhóm bắt đầu chinh phục thị trường Nam Mỹ, mở ra nhiều hợp tác với giới nghệ sĩ quốc tế, trong đó có Gloria Estefan. Một mặt, các bài hát ghi âm bằng tiếng Tây Ban Nha giúp cho ban nhạc thâm nhập thị trường Hoa Kỳ, thông qua cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha. Mặt khác, việc phóng tác chuyển thể các bản nhạc ăn khách trên thị trường quốc tế làm giàu thêm bộ vựng tập các tình khúc La Tinh.

Đầu những năm 2000, Alexandre Pires thực hiện giấc mộng vươn ra biển lớn của mình nhưng điều đó buộc anh phải tách ra riêng. Anh khởi nghiệp hát solo và thay đổi hình ảnh, vì phong trào boys band thịnh hành vào những năm 1990, bắt đầu lụi tàn. Album đầu tiên mang tên riêng của anh, ghi âm và phát hành năm 2001, giành lấy ngôi vị quán quân tại Brazil và Nam Mỹ. Tập nhạc này gồm cả hai phiên bản Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, giúp cho Alexandre Pires đứng đầu trong hạng mục La Tinh.

Alexandre-Pires

Vào tháng Năm năm 2002, tạp chí Billboard trao cho Alexandre Pires danh hiệu “Nghệ sĩ La Tinh xuất sắc nhất trong năm”. Giải thưởng này ghi nhận sự xuất hiện của một tài năng mới trên thị trường Bắc Mỹ. Anh được mời đi biểu diễn với diva nhạc pop Toni Braxton.

Hầu hết các tình khúc ăn khách của diva này đều do Alexandre Pires phóng tác và ghi âm lại trong tiếng Bồ Đào Nha. Sau đó, anh cũng có đi hát chung với Carlos Santana nhân vòng lưu diễn của nghệ sĩ này tại Brazil.

Tính từ năm 2001 tới nay, Alexandre Pires đã ghi âm 9 album và 3 tuyển tập. Ăn khách nhất vẫn là album thứ sáu (A Un Idolo) phát hành vào năm 2007, trên album này, anh ghi âm lại nhiều bài hát của Julio Iglesias, một thần tượng mà theo anh đã gợi nhiều cảm hứng trong cách diễn đạt tình khúc, sở trường của ca sĩ người Brazil.

alexxie34-images

Các tình khúc tiêu biểu nhất của album này là Pobre Diablo (Pauvres Diables / Vous Les Femmes), Abrazame (Viens M’embrasser / Lại Gần Hôn Anh) hay là Me Olvide de Vivir (nguyên tác tiếng Pháp là bài J’ai oublié de vivre mà tác giả Pierre Billon đã viết cho album C’est la vie của Johnny Hallyday vào năm 1977).

Khi mới vào nghề ca hát và đi diễn chung cùng với ban nhạc, Alexandre Pires biểu diễn theo phong cách gọi là samba lãng mạn (Pagode Romantico), chuộng những giai điệu trữ tình với lời lẽ ướt át. Tuy nhiên, phong trào này cũng bị chỉ trích là quá thương mại, hiểu theo nghĩa xấu nhất, các bản nhạc dễ nghe dễ nhớ nên không tránh khỏi những ca từ ngây ngô, chủ đề khuôn sáo.

Khi chuyển qua hát solo, Alexandre Pires đã tìm cách phối hợp thêm với nhiều ảnh hưởng và thể loại âm nhạc khác nhau kể cả pop rock, dòng nhạc đồng quê của Brazil (sertaneja) và nhất là các nhịp điệu cách tân từ hai dòng nhạc truyền thống của người Brazil là samba và bossa nova.

aleximages

Trong những năm sau này, Alexandre Pires ít còn sử dụng trong lối hoà âm các loại nhạc khí đặc trưng của dòng nhạc samba kể cả trống thiết và bộ gõ. Anh thiên về các loại nhạc khí thường dùng trong các nhóm tứ tấu nhạc jazz, điều này có thể thấy rất rõ trong lối phóng tác các tình khúc quốc tế.

Phiên bản tiếng Bồ Đào Nha của bài Everytime You Go Away (nguyên tác của Paul Young) tuy lãng mạn nhưng vẫn còn chắc nhịp samba, trong khi phiên bản chuyển thể từ nhạc phẩm Hunting High and Low (nguyên tác của nhóm A-ha, ban nhạc người Na Uy) thì lại thanh thoát hơn nhiều trong lối hoà quyện một chút nhạc pop jazz với bossa nova.

Ngoài sở trường hát tình khúc, Alexandre Pires còn khá nổi tiếng nhờ vào cái tài chuyển thể các bản nhạc nổi tiếng sang tiếng Bồ Đào Nha, kể cả các nhạc phẩm của Lenny Kravitz, Toni Braxton hay Lea Salonga (ca sĩ người Philippines vai chính của vở ca nhạc kịch Miss Saigon).

Nhưng trong số những thần tượng mà anh hằng ngưỡng mộ, gương mặt nổi bật vẫn là Julio Iglesias, có lẽ cũng vì đó là những ca khúc đầu tiên cậu bé Alexandre đã được nghe khi mới tập tễnh bước chân vào nghề. Có lẽ cũng vì thế mà trong bài Abrazame, giọng ca này bùng cháy tất cả những niềm đam mê.

Theo RFI/Dean Nguyen – ST

0 Comments

No comments!

There are no comments yet, but you can be first to comment this article.

Leave reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *