PHI LUẬT TÂN: NGƯỜI TỴ NẠN DO THÁI 70 NĂM TRƯỚC Ở MANILA TRƯỚC TRẬN DIỆT CHỦNG ĐỨC QUỐC XÃ

FM974
Chuyện Thế Giới Trong Tuần
Thứ Hai 16/02/15

PHI LUẬT TÂN: NGƯỜI TỴ NẠN DO THÁI 70 NĂM TRƯỚC Ở MANILA TRƯỚC TRẬN DIỆT CHỦNG ĐỨC QUỐC XÃ.

Ở tuổi lên 7, Lotte Hershfield đã biết sợ biết buồn khi phải tránh những cái băng gỗ với hành chữ “Chó và người Do Thái cấm không được ngồi” và khi không được phép đến trường học như các đứa trẻ khác nhất là những lúc bọn lính Đức quốc xã và chó săn bẹt-giê càn vào nhà của gia đình cô, quăng mọi sách vỡ mà cha mẹ cô có vào lửa đỏ.

hqdefault (3)

Bà Hershfield, hiện đã 84 tuổi, nhớ về những ngày còn thơ ấu đó, thời gian mà bà đã nhận ra rằng người Do Thái, không được người ta chào đón trên ngay cả tại nhà riêng của mình. Nổi sơ sệt ngày càng tăng nên cha mẹ bà và người anh lớn quyết định rời thành phố Breslau, Đức quốc năm 1938 đến Phi Luật Tân, một vùng đất hoàn toàn xa lạ. Có khoảng 1200 người Âu châu gốc Do Thái trốn đến Phi Luật Tân từ năm 1937 tới 1941, trên đường vượt thoát móng vuốt tàn độc của Đức Quốc Xã nhưng ở đó, họ lại phải đối diện với một cuốc chiến đẩm máu khác, dưới sự chiếm đóng của quân đội Nhật lúc bấy giờ. Có rất nhiều người Do Thái trốn đến từ Áo quốc, Đức quốc vì ở đó nạn bài Do Thái cũng như đạo luật kỷ thị Nuremberg có khuynh hướng được dân bản xứ ủng hộ tích cực. Không thể di dân đến các nước như Hoa kỳ, Anh quốc, hàng ngàn người Do Thái đành vượt thoát tới những nơi khác như Thượng Hải của Trung Hoa, Sousa của cộng hòa Dominican và Manila của Phi Luật Tân.
Manuel Quezon, vị tổng thống đầu tiên của cộng hòa liên bang Phi Luật Tân và một nhóm người Mỹ, bao gồm vị tổng thống tương lai của Hoa kỳ lúc bấy giờ là Dwight Eisenhower và nhóm Freiders hay Những người anh em Do Thái-Hoa Kỳ bắt đầu lo ngại nhiều về sự bạc đải mà người Do Thái ở Âu châu đang chịu đựng vào cuối những năm 1930. Những người này đã bàn đến một chiến lược thực tiển để có thể đem được người tỵ nạn Do Thái đến đất Phi. Vì cộng hòa liên bang Phi luật Tân lúc này còn nằm dưới sự bảo hộ của Hoa Kỳ cho nên nước này không có quyền nhận những ai cần sự giúp đở của công quỹ. Ủy ban tỵ nạn liền nghĩ tới vận động cho những người có học thức, ngành nghề chuyên môn, chuyên gia như bác sĩ, kỷ sư hay kế toán viên.

images111
Trong năm 1938, một lần sóng người tỵ nạn Do Thái đến Phi luật Tân lớn gồm một giáo sĩ Do Thái, nhiều bác sĩ, dược sĩ và có cả một nhạc trưởng dàn nhạc, ông Herbert Zipper, người đã sống sót từ trại tập trung Dachau và sau đó là sáng lập viên của dàn nhạc đại hòa tấu Manila Symphony. Tổng thống Quezon có tham vọng là sẽ tái định cư khoảng 10 ngàn người do Thái tại vùng phía nam đảo Mindanao nhưng bị hủy bỏ khi chiến tranh với Nhật tràn tới bờ biển Phi. Đối với những người Âu châu gốc Do Thái đến được đất Phi luật Tân thì đây là một “cú sốc văn hóa”, như lời của bà Hershfield, họ không biết tiếng Phi, họ đã không bao giờ thấy cái gì khác hơn là người da trắng trước đây. Khí hậu thì quá ẩm ướt, trời thì nóng bức và đặc biệt là những con muỗi. Nhưng với trẻ con tỵ nạn Do Thái thì khác hẳn, bọn nó thấy đến Phi là một cuộc khám phá mới đầy thích thú, trẻ con leo trèo chơi đùa trên các cây xoài lớn xum xuê trái, bơi lội bì bõm trong vịnh biển và hứng thú tập hát các bài hát Phi Luật Tân. Bà Hershfield lúc đó đã làm bạn với người láng giềng quanh nơi bà ở, chơi trò chơi “sipa”(trò chơi giống như đá gà) và tập ăn nhiều thứ trái cây mới như đu đủ và ổi… Giống như người Phi của Manila, trẻ con Do Thái chạy nhảy đi đứng trên đường phố trong quần áo mùa hè và mang dép săn – đan. Người lớn, cha mẹ các em lại có lối sống khác hơn. Như bà Hershfield nói, thật quá khó khăn cho cha mẹ bà, họ không bao giờ thật sự học tiếng Tagalog, vì đã bị tây phương hóa quá lâu, họ hầu hết lẩn quẩn trong cái cộng đồng tỵ nạn người Do Thái mà không đi xa ngoài hơn nữa. Họ đã đi từ cái giàu có ở Đức đến cái không có gì ở Phi Luật Tân.

images113
Trong ký ức của những người tỵ nạn Do Thái, họ sẽ không còn sống đến ngày hôm nay nếu không có sự đùm bọc của đất nước Phi Luật Tân. Nếu không có nơi này có lẽ họ đã bị quân Đức quốc xã thiêu rụi hết rồi. Bắt đầu năm 1941, quân Nhật chiếm đóng Phi luật Tân. Trong một chút nhân hượng nào đó, người Do Thái lúc bấy giờ được đối xử dễ chịu hơn người bản xứ Phi vì một chút khôi hài là Nhật xem những người còn giữ sổ thông hành Đức quốc là người của quân đồng minh với Nhật. Quân Nhật tập trung người thường trú Anh và Hoa kỳ trong các khu dân cư riêng. Quân nhân Phi và Hoa kỳ bị buộc phải đi bộ quảng đường hơn 120 cây số có tên là đường “tử thần Bataan” để cuối cùng có khoảng 10 ngàn tù binh chết.

download (63)
Sĩ quan Nhật tịch thu nhà cửa dân chúng cũng như thâu góp mùa màng để làm lương thực cho quân đội họ, thực phẩm khan hiếm khủng khiếp trên khắp vùng. Khi quân đồng minh của Hoa kỳ bắt đầu tấn công lấy lại Phi, bom nổ hàng ngày trên đất thành phố Manila, ai nấy, trong đó có người tỵ nạn Do Thái phải chui trốn trong các hầm tránh bom, không biết nó sẽ chụp xuống chỗ nào. Một trong những người bạn của bà Hershfield đã chết khi dẫm đạp trên một quả mìn. Thành phố Manila thành biển lửa khi bị phi cơ Nhật dội bom tơi bời và do quân Nhật đốt cháy khi họ rút bỏ đi trước lúc quân Mỹ tiến vào chiếm lại hôm 27 tháng 2 năm 1945. Trong khi quân Nhật đang thua trận tại Manila, họ phát động một sự tàn phá và chém giết ghê rợn các thị trấn quanh vùng. Hiếp dâm, tra tấn, chặt đầu và đâm chết thường dân là chuyện thường nhật xảy ra, đến nổi một tướng lãnh Nhật, ông Tomoyuki Yamashita sau đó, đã bị tử hình vì không kiểm soát quân sĩ dưới quyền của mình.
Nhưng theo người tỵ nạn Do Thái thì, dù sống trong tình trạng chiến tranh nguy hiểm tại Phi lúc đó vẫn còn sung sướng hơn là sống ở trong một trại tập trung của Đức quốc xã. Trận chiến nhiều tháng trời, chiếm lại thành phố Manila đã để lại cho cái thủ đô này chỉ là tro tàn và gạch vụn, nó tàn phá mọi thứ từ hạn tầng kiến trúc tới khủng hoảng kinh tế của đất nước Phi Luật Tân. Có khoảng gần 1 triệu thường dân Phi đã chết trong suốt cuộc chiến. Dù phải đối diện với những tang thương của hai trận chiến ở Phi và ở Âu châu, bà Hershfield vẫn luôn nhớ ơn đất nước Phi, một thứ quê hương thứ hai mà bà đã sống còn nhờ nó.
Năm 2009, một cái tượng tưởng niệm vinh danh người Phi luật Tân được dựng lên tại vườn “Tưởng niệm cuộc diệt chủng” ở thành phố Rishon Lezion tại Do Thái. Tượng này có hình dạng như ba cánh cửa mở, cám ơn người dân Phi và các vị tổng thống của nước này đã nhận, bảo bọc người tỵ nạn Do Thái trong suốt thời kỳ diệt chủng của Đức quốc xã. Có nhiều người Do Thái thuộc thế hệ con cháu hay những nạn nhân sống sót sau trận diệt chủng, đã trốn thoát đến đất nước Phi đã không quên nước này, chỗ mà gia đình họ đã sống đời người tỵ nạn.

download (64)
Khi cơn bảo Haivan tàn phá nước Phi tháng 11 năm 2013, ủy ban cứu trợ người Hoa kỳ gốc Do Thái đã gởi hàng trăm người thiện nguyện đến giúp đở những nạn nhân còn sống và xây dựng lại nơi ăn chốn ở cho họ một cách nhiệt tâm. Ông Danny Pin, họ hàng của bà Hershfield và cũng là con trai của một người tỵ nạn Do Thái ở Phi Luật Tân là người trưởng toán của toán giám và ước định thiệt hại đến làm việc tại đó trong nhiều ngày.

Theo lời của ông Danny Pin, “với cá nhân tôi, tôi không thể giúp được nhiều nhưng nghĩ về những gì đã xảy ra khi ông bà và mẹ tôi đến đây 76 năm trước, chuyến đi tới Phi sau cơn bảo Haivan của tôi rất đặc biệt vì tôi đang đền trả một món nợ mà chúng tôi thiếu lại cho đất nước Phi Luật Tân, nơi đã cứu sống gia đình tôi khỏi tay tên tử thần Đức quốc xã.

Thuyên Huy Radio FM974 

Bình luận bài viết

Bình luận

0 Comments

No comments!

There are no comments yet, but you can be first to comment this article.

Leave reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *